CHI CỤC ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA KHU VỰC III
Inland Waterways Administration Branch III

Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho những hệ thống sông rạch vô cùng phong phú. Tổng chiều dài các sông kênh phía Nam là 28.551 Km với mật độ là 0.68 Km/Km2, xếp vào một trong các nước có mật độ sông lớn nhất thế giới. Với thuận lợi trên, các sông kênh Nam bộ đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc trước đây cũng như công việc phát triển kinh tế hiện tại.

Đồng bằng sông Cửu Long có các hệ thống sông chính bao gồm: hệ thống sông Cửu Long (sông Tiền, sông Hậu và các nhánh Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên), hệ thống sông Vàm Cỏ, các sông chảy ra vịnh Thái Lan như sông Cái Lớn, Cái Bé, sông Ông Đốc, sông Bảy Hạp. Các hệ thống sông thiên nhiên trên được kết nối với nhau bằng hệ thống kênh đào có chiều dài 5000Km có thể cho tàu ghe có trọng tải 100T lưu thông được, ngoài ra các trung tâm, tỉnh ly, thị xã các tỉnh miền Đông Nam bộ (Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai) đều có thể thông thương với nhau được bằng hệ thống đường thuỷ.

Với tiềm năng thuận lợi như trên, vận tải thủy nội địa cả nước nói chung và phía Nam nói riêng đóng góp một tỷ lệ đáng kể vào trong khối lượng giao thông vận tải của quốc gia. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới năm 2019, vận tải ĐTNĐ của Việt Nam có tỷ lệ đảm nhận vận chuyển hàng hóa nội địa cao hơn nhiều so với Trung Quốc, Hoa Kỳ và EU (trừ Hà Lan). WB cũng đánh giá vận tải ĐTNĐ của Việt Nam đang hoạt động tốt với các dấu hiệu tăng trưởng và chuyển biến đáng khích lệ. (Báo cáo Phát triển bền vững ngành đường thủy nội địa Việt Nam tháng 3/2019 của WB)

Thông tin về lãnh đạo Chi cục Đường thủy nội địa khu vực III:

HỌ VÀ TÊN

CHỨC VỤ

Chi Cục Đường thủy nội địa khu vực III

Phan văn Duy

Chi Cục trưởng

Trần Quang Trung

Phó Chi cục trưởng

Phòng Tổ chức – Hành chính – Đào tạo

Nguyễn Đình Đường

Trưởng Phòng

Nguyễn Công Chiến

Phó Trưởng phòng

Đoàn Thị Nhung

Phó Trưởng phòng

Phòng Quản lý hạ tầng

Ngô Thanh Liêm

Trưởng Phòng

Võ Đình Trung

Phó Trưởng phòng

Phòng Kế hoạch – Tài chính

Đinh Văn Ngoan

Trưởng phòng

Phan Trung Quân

 

Phó Trưởng phòng

Đội Thanh tra – An toàn số 5

Phạm Thế Nghiệp

Đội trưởng

Hoàng Văn Công

Phó đội trưởng

Đội Thanh tra – An toàn số 6

Nguyễn Thanh Tuy

Đội trưởng

 

 

Đội Thanh tra – An toàn số 7

Mai Thành Phước

Đội trưởng

Trần Minh Trường

Phó đội trưởng

Đội Thanh tra – An toàn số 8

Phan Văn Út

Đội trưởng

 

 

1. Đường thủy nội địa

1.1.Hệ thống sông Cửu Long: Còn gọi là hệ thống sông Mê Kông bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Thái Lan, CamPuChia, Việt Nam và đổ ra biển Đông. Vào Việt Nam, sông Mê Kông chảy theo 2 nhánh là sông Tiền và sông Hậu; Nhánh chính là sông Tiền chảy qua Tân Châu, Chợ Mới, Cao Lãnh, Mỹ Tho đổ ra cửa Tiểu; riêng từ Vĩnh Long về hạ lưu, sông Tiền chia ra các nhánh sông Cổ Chiên, Hàm Luông, Ba lai và sông Cửa Đại. Nhánh phụ là sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Đại Ngãi và đổ ra biển bằng hai cửa Định An và Trần Đề.

Sông Tiền và sông Hậu được nối với nhau bằng hệ thống sông tự nhiên và kênh đào như kênh Tân Châu, sông Châu Đốc, sông Vàm Nao, kênh Lấp Vò-Sa Đéc, kênh Chợ Lách, sông Măng Thít và rạch Trà Ôn.

1.2. Hệ thống sông Đồng Nai: gồm các sông Đồng Nai, Vàm Cỏ, Sài Gòn hợp thành. Sông Đồng Nai bắt nguồn tư cao nguyên Lâm Viên chảy đến Dak Hoai( còn gọi là Đồng Nai thượng) qua tỉnh Lâm Đồng đến Hồ Trị An sau đó tiếp tục chảy qua tỉnh Đồng Nai hợp lưu với sông Sài Gòn, sông Nhà Bè tại ngã ba Đèn Đỏ và tiếp tục chảy ra biển theo ngã sông Soài Rạp. Phía Đông Nam có các sông ngắn như Thị Vải, Ngã bảy, Cái Mép, Lòng Tàu …chảy ra biển tại Vũng Tàu.

Sông Đồng Nai có các phụ lưu: phía tả ngạn có sông La Ngà, hữu ngạn có sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây.

1.3. Tiềm năng phục vụ khai thác vận tải

Với hai hệ thống sông chính, các tàu trên 4 vạn tấn có thể vào cụm cảng Long Thành Thị Vải, các tàu trên 1 vạn tấn có thể ra vào cụm cảng Sài Gòn. Đặc biệt hệ thống sông Cửu Long có thể cho tàu đến 10.000T lợi dụng thuỷ triều theo cửa Định An sông Hậu (Hiện nay là ke6ng Quan Chánh Bố) vào cảng Cần Thơ, tàu 5.000T theo cửa Tiểu Sông Tiền lên tận Phnong Penh. Các tàu sông hầu hết có thể theo các hệ thống sông kênh đào đi khắp thị trấn thị xã của khu vực, nối kết các trung tâm công nghiệp, nông nghiệp, các vùng kinh tế với nhau và liên kết với cả nước, các tuyến quốc tế qua hệ thống cảng rất phong phú nằm dọc theo các tuyến sông.

2. Cảng bến thủy nội địa

Hệ thống cảng thủy nội địa tuy phát triển nhanh nhưng chủ yếu là các cảng có quy mô nhỏ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó, các cảng đầu mối số lượng  còn hạn chế, chưa phát huy được vai trò là cảng đầu mối, lượng hàng thông qua thấp nên chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu. Do nhu cầu bốc xếp hàng hóa bằng đường thủy nội địa gia tăng nên số lượng các cảng quy mô nhỏ tăng. Cảng loại này có chất lượng đầu tư rất thấp, quy mô thường nhỏ, khả năng kết nối giao thông hạn chế, tổ chức khai thác thiếu chuyên nghiệp, thiết bị xếp, dỡ hàng hóa tại các cảng nhìn chung còn lạc hậu, bốc xếp thủ công còn nhiều, thiếu các trang thiết bị bốc xếp chuyên dụng (hàng hạt, lương thực, hàng container, hàng bao kiện).

3. Phương tiện thủy nội địa

Trên cả nước có là 253.797phương tiện thuỷ nội địa được đăng ký với 18.913.906 tấn phương tiện; 569.884 ghế; 17.489.741 sức ngựa, đạt 53,9% so với Tổng điều tra năm 2007. Cơ cấu đội tàu chưa hợp lý, chủ yếu là tàu hàng khô, tàu chuyên dụng trở container rất ít, số lượng tàu hàng chiếm 75,07% tổng số đội tàu sông Việt Nam, trong đó chủ yếu là tàu chở hàng khô chiếm 43,64%, còn lại 0,18% là tàu chở container, tàu chở dầu,… Số lượng tàu khách chỉ chiếm 15,75% tổng số đội tàu.

Tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng của đội tàu thủy nội địa giai đoạn 2010 - 2020 là gần 5%/năm, trong đó đội tàu chở hàng tăng 4,12%/năm về số lượng, 4,75%/năm về trọng tải, đội tàu chở khách tăng 9,24%/năm về số lượng, tăng 5,45%/năm về trọng tải. Lượng tàu có công suất, trọng tải lớn, có tính năng kỹ thuật cao gia tăng. Trong đó, phương tiện tự hành có quy mô phát triển áp đảo cả về số lượng và kích cỡ tầu.

Khoảng 97% phương tiện thủy nội địa chở hàng khô với trọng tải trung bình là 90 DWT, trong đó hàng chục ngàn phương tiện thủy rất nhỏ với trọng tải chỉ từ 5- 20 DWT. Trọng tải bình quân phương tiện chuyên dùng lớn hơn, trong đó phương tiện chở dầu là 236 DWT và phương tiện chở container là 1.171 DWT.

 Tỷ trọng các phương tiện có trọng tải lớn và phương tiện chuyên dùng đang có xu hướng gia tăng. Số lượng phương tiện có trọng tải trên 1.500 DWT đã tăng gấp đôi trong 3 năm qua, từ 696 phương tiện năm 2014 lên 1.287 phương tiện năm 2018 bao gồm cả phương tiện chở hàng khô, phương tiện chở dầu và phương tiện chở container. Nếu chiều dài của các tuyến đường thủy cấp I và cấp II được nâng lên xu hướng này còn có khả năng tăng nhanh hơn nữa.

Dữ liệu ĐTNĐ
Liên kết website
Góp ý - Hỗ trợ
Copyright © 2021 Viwa-s.gov.vn. Design Web: PhuongNamVina